Hiển thị các bài đăng có nhãn Sưu Tầm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sưu Tầm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 5 tháng 1, 2012

Tôn tạo di tích lịch sử : Cần một khung khổ pháp lý chặt chẽ


Theo www.chinhphu.vn - 2 năm trước
Chinhphu.vn)-Thời gian qua, dư luận đã lên tiếng về các sai phạm trong việc trùng tu các di tích lịch sử văn hoá, trong đó có việc tu bổ, tôn tạo tại một số di tích đã không đảm bảo kỹ thuật, yếu tố nguyên gốc của di tích ít được coi trọng. Vấn đề đặt ra là cần có một khung khổ pháp lý chặt chẽ cho công tác này.
 
Tôn tạo di tích lịch sử: Cần một khung khổ pháp lý chặt chẽ
Tượng sư tử đá ở đền Đô (Bắc Ninh) không phù hợp với cảnh quan di tích. Ảnh: Tuổi trẻ Online.
Mới đây, Đoàn Thanh tra Bộ Văn   hoá-Thể thao và Du lịch (BVTTTDL) đã kiểm tra việc thực hiện Luật Di sản văn hoá đối với các di tích lịch sử tại  4 tỉnh phía Bắc gồm Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang và Nam Định.
Các di tích được thanh tra là di tích cấp quốc gia đang trong quá trình tu bổ, sửa chữa và đã được báo chí phản ánh về tình trạng vi phạm các yếu tố gốc làm ảnh hưởng đến kiến trúc nghệ thuật của di tích.
Nhiều vi phạm trong tôn tạo, tu bổ di tích
Theo kết quả đánh giá sơ bộ, các dự án trùng tu thực hiện bằng nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia đều tuân thủ quy định của Luật Di sản văn hoá, thực hiện tốt quy trình đầu tư, xây dựng và các quy định về tu bổ di tích, kỹ thuật được bảo đảm như đình Đình Bảng, chùa Kim Liên, đình Sùng Văn, chùa Keo, chùa Dâu, chùa Bổ Đà, đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền...
Tuy nhiên, vẫn có tới hơn một nửa trong số 15 di tích được kiểm tra có vi phạm, chủ yếu là ở các dự án thực hiện bằng nguồn vốn địa phương hay nguồn công đức.
Những vi phạm thường thấy là: việc tu bổ không theo đúng quy trình kỹ thuật, thi công không đảm bảo, các yếu tố nguyên gốc của di tích ít được coi trọng. Một số vi phạm còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến kiến trúc nghệ thuật của di tích.
Ở chùa Trăm Gian (Hà Nội), việc trùng tu, tôn tạo được thực hiện trong khi hồ sơ thiết kế chi tiết chưa được Bộ VHTTDL thông qua. Một số hạng mục được làm mới thêm (như tả vu, hữu vu, nhà ngự, kè hồ, bệ tượng) không đảm bảo yếu tố gốc, đã che toàn bộ những bức phù điêu đất nung quý, tiêu biểu cho nghệ thuật gốm không men của Việt Nam cuối thế kỷ XVI... Do đó phá vỡ bố cục di tích, ảnh hưởng xấu đến cảnh quan di tích.
Tại đền Và, công tác thi công chưa khoa học, những người thực hiện thi công đã tự động tháo dỡ tường, đưa hai sư tử đá vào đền không phù hợp với kiến trúc cảnh quan của di tích này.
Việc trùng tu, tôn tạo đền Đô ở Bắc Ninh cũng có những vi phạm tương tự: hai con sư tử bằng đá đặt trước cửa đền, việc treo đèn chùm trong nội tự đền… đã phá vỡ cảnh quan di tích. Tại chùa Dâu, Đoàn kiểm tra phát hiện mái ngói nhà tiền thất đã bị xô, dẫn đến dột cục bộ và 8 hộ dân nằm trong quy hoạch của dự án cũng chưa được giải toả…
Theo ông Vũ Xuân Thành - Chánh Thanh tra Bộ VHTTDL, nguyên nhân của những vi phạm nói trên chủ yếu là do một số đơn vị thi công chưa có kinh nghiệm trong việc tu bổ di tích, đặc biệt là các kiến thức về kỹ thuật tu bổ và bảo quản hiện vật, dẫn đến xa rời yếu tố nguyên gốc; hồ sơ không được Cục Di sản văn hoá phê duyệt và thiếu sự kiểm tra, giám sát  thường xuyên của các cơ quan chức năng. Thêm vào đó, người dân địa phương thường có tâm lý thích “hoành tráng", "khang trang”… nên đã đưa một số vật liệu mới vào thi công, đưa các đồ trưng bày hiện đại vào trang trí ảnh hưởng đến tính nguyên bản của di tích.
Việc trùng tu, tôn tạo di tích phải tuân thủ quy trình chuẩn
Mục tiêu đặt ra là phải bảo tồn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích, trong đó ưu tiên việc giữ gìn, bảo quản các di tích kiến trúc với các mảng chạm khắc nghệ thuật. Thêm vào đó cũng cần chú ý đến sự bền vững lâu dài cho di tích sau khi được tu bổ. Cuối cùng là nguyện vọng của cộng đồng cư dân đang trông nom gìn giữ di tích cũng cần được tôn trọng, xem xét xử lý.
Nhận xét về quy trình trùng tu, tôn tạo lại di tích hiện nay, Thứ trưởng Trần Chiến Thắng đã nêu  một số bất cập, đó là đơn vị chịu trách nhiệm thi công chưa có kinh nghiệm trong việc tu bổ di tích lịch sử - văn hoá. Bên cạnh đó, hiện nay, việc tu bổ, tôn tạo và nâng cấp di tích cũng bị “vướng” do một số quy định của Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu. Chẳng hạn, trong đấu thầu thi công, đơn vị nào đưa  giá thấp nhất sẽ thắng thầu, bất kể việc họ có kinh nghiệm hay không. Vì vậy, Bộ VHTTDL đã trình Quốc hội dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá tại kỳ họp thứ 12.
Để từng bước khắc phục các vi phạm, trong thời gian tới, Thanh tra Bộ sẽ tổ chức 3 lớp tập huấn về quản lý, bảo quản và kỹ thuật trùng tu, tu bổ di tích cho các lãnh đạo cấp quận - huyện của sở chuyên ngành, Chánh Thanh tra và các Trưởng phòng quản lý di tích trong cả nước.
Bộ VHTTDL cũng đã đề xuất việc ban hành quy trình chuẩn về trùng tu di tích, trong đó có yêu cầu chỉ huy công trình phải là người có kinh nghiệm, có chứng chỉ hành nghề do Bộ cấp.
Ngay sau khi có kết quả thanh tra, Bộ VHTTDL đã ban hành Chỉ thị 73 (ngày19/5) về việc tăng cường các biện pháp quản lý di tích và các hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử văn hoá, tín ngưỡng.
Theo Chỉ thị này, các Sở VHTTDL tăng cường kiểm tra công tác quản lý di tích, gắn với trách nhiệm của chính quyền, các đoàn thể ở huyện, xã trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích. Tiếp tục kiện toàn và nâng cao trách nhiệm bộ máy quản lý, tăng cường kiểm tra các hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích; hướng dẫn các chủ đầu tư thực hiện đúng các qui trình, qui định, thủ tục triển khai các dự án tu bổ di tích.
Chỉ thị 73 trước mắt, sẽ tạo ra một hành lang pháp lý chặt chẽ để các đơn vị liên quan cùng vào cuộc thực hiện kiểm tra giám sát việc trùng tu di tích từ giai đoạn đầu cho tới khi hoàn thiện, tránh những sai sót làm mất đi tính nguyên bản của di tích.
Cần làm rõ khái niệm "Yếu tố gốc cấu thành di tích"
Ngày 2/6, Quốc hội đã cho ý kiến về  dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá, trong đó tập trung vào một số nội dung bổ sung khái niệm "yếu tố gốc cấu thành di tích"; bảo quản, tu bổ, phục hồi các di tích …  
Hầu hết các đại biểu Quốc hội đều cho rằng, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá sau gần 8 năm thực hiện là việc làm cần thiết, được đông đảo nhân dân và những người làm công tác bảo vệ di sản văn hoá quan tâm, mong đợi và đồng tình. 
Đa số đại biểu đề nghị làm rõ khái niệm "yếu tố gốc cấu thành di tích", bởi nếu theo định nghĩa trong dự thảo Luật: " Yếu tố gốc cấu thành di tích là yếu tố có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, thẩm mỹ, thể hiện đặc trưng của di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, được hình thành từ đầu hoặc được bổ sung trong quá trình tu bổ, phục hồi (bổ sung khoản 15 Điều 4) thì không thể gọi là gốc và nếu quan niệm "yếu tố gốc cấu thành di tích" như trên có thể sẽ làm tình trạng vi phạm khi trùng tu di tích tiếp tục tái diễn.
 Đại biểu Quốc hội đề nghị cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền  Luật Di sản văn hoá trong các tầng lớp nhân dân, nâng cao trách nhiệm mỗi cá nhân trong tham gia bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị của di sản văn hoá.
15 di tích đang trong quá trình trùng tu, tôn tạo:
Hà Nội- (6 di tích): chùa Trăm Gian, đền Và, chùa Bối Khê, đình Mông Phụ, đình Thuỵ Phiêu, chùa Kim Liên.
Bắc Ninh -(4 di tích): đình Đình Bảng, đền Đô, chùa Dâu, đền Rồng.
Bắc Giang -(2 di tích): chùa Bổ Đà, đình Thổ Hà.
Nam Định -(3 di tích): đình Sùng Văn, chùa Keo, đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền. 

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2012

Danh lam thắng cảnh miền Bắc


Cát Bà - Điểm du lịch sinh thái

EmailInPDF.
cat_ba_9Cát Bà là nơi hội tụ giữa rừng với biển. Biển và rừng hoà quyện vào nhau tạo nên phong cảnh có một không hai…

Trên rừng, những chồi non đã hé nụ, ở các bãi tắm chính và những bãi tắm nhỏ nằm trên các hòn đảo là những dải cát nằm uốn lượn theo sườn núi nằm nghiêng nghiêng bên dòng nước trong xanh, quanh năm rì rào sóng vỗ.
Lần cập nhật cuối ( Chủ nhật, 16 Tháng 1 2011 15:41 )Đọc thêm...
 

Làng gốm Bát Tràng xưa và nay

EmailInPDF.

bat_trang_1Làng gốm sứ Bát Tràng - ngôi làng cổ khoảng 500 tuổi nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 10km về phía Ðông Nam, bên tả ngạn sông Hồng, trước đây thuộc tỉnh Bắc Ninh nay thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội.
Theo Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, tên xã Bát tức Bát Tràng xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1352. Nhưng theo dã sử thì vào thời nhà Lý (1010-1225) dân từ xã Bồ Bát thuộc tỉnh Ninh Bình đến lập nghiệp tại vùng đất này và đặt tên là xã Bát Tràng. Sở dĩ người dân Bồ Bát chọn vùng đất này để lập nghiệp vì ở đây có đất sét trắng-một nguồn nguyên liệu tốt để cho ra những sản phẩm gốm có chất lượng cao. Hơn nữa, vùng đất này nằm cạnh bờ sông Nhị tức sông Hồng sẽ thuận lợi cho việc giao thông, chuyên chở và trao đổi hàng hóa.

Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 08 Tháng 1 2011 10:35 )Đọc thêm...
 

Vườn treo Sapa

EmailInPDF.
sapa_5Đất trời đã ban tặng cho nước ta một Sa Pa vừa huyền ảo, lúc ẩn, lúc hiện trong sương dày đặc, vừa kỳ vĩ, thơ mộng hệt như một vườn treo khổng lồ, nằm lơ lửng tận trời xanh, quanh năm sương mù bao phủ...



Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 08 Tháng 1 2011 10:18 )Đọc thêm...
 

Thung Nai mùa nước cạn

EmailInPDF.
thung nai 1Thung Nai, một địa danh nổi tiếng của Hòa Bình với nhiều cảnh đẹp, vào mùa nước nổi được ví như một Hạ Long trên cao nhưng ít ai biết rằng vào mùa nước cạn Thung Nai cũng rất đẹp.

Thung Nai là một xã lòng hồ sông Đà thuộc huyện Cao Phong - Hòa Bình nằm cách trung tâm thành phố Hoà Bình khoảng 25km và cách Hà Nội khoảng 110km. Cái tên Thung Nai được đặt do xưa kia tại thung lũng này nai về rất nhiều nên lâu dần đã trở thành cái tên chính thức của vùng đất này.
Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 11 Tháng 1 2011 12:24 )Đọc thêm...
 

Đến thăm Việt Phủ Thành Chương

EmailInPDF.

viet phu thanh chuong 1Việt Phủ Thành Chương nằm ở xã Hiền Ninh, Sóc Sơn, Hà Nội. Lần đầu đặt chân đến đây, không ai có thể biết rằng, 9 năm trước, toàn bộ diện tích 10.000 mét vuông của Việt Phủ Thành Chương là đồi trọc, đất cằn


VẤN ĐỀ BẢO VỆ VÀ SỬ DỤNG DI TÍCH LỊCH SỬ, VĂN HOÁ VÀ DANH LAM, THẮNG CẢNH


Điều 12
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương có trách nhiệm quản lý các di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh tại địa phương mình.
Điều 13
Những di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh đặc biệt quan trọng được bảo vệ và sử dụng theo chế độ đặc biệt do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Điều 14
Tổ chức và cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc trực tiếp bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh, tập thể và cá nhân là chủ sở hữu di tích lịch sử, văn hoá có nghĩa vụ bảo quản thường xuyên di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh theo những quy định về bảo tồn của Nhà nước.
Khi di tích lịch sử, văn hoá hoặc danh lam, thắng cảnh có nguy cơ bị hư hại, người chủ sử dụng hoặc sở hữu, tổ chức, cá nhân trực tiếp bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá hoặc danh lam, thắng cảnh đó có nhiệm vụ tiến hành những biện pháp bảo vệ cấp thiết và phải báo ngay với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn biết để giúp đỡ và báo cáo kịp thời với cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp.
Điều 15
Mỗi di tích lịch sử, văn hoá là bất động sản và danh lam, thắng cảnh có từ một đến ba khu vực bảo vệ:
- Khu vực I là khu vực phải được bảo vệ nguyên trạng.
- Khu vực II là khu vực bao quanh khu vực I được phép xây dựng những công trình nhằm mục đích tôn tạo di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh.
- Khu vực III là khung cảnh thiên nhiên của di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh.
Các khu vực bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh được xác định theo chế độ do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Mọi hoạt động xây dựng, khai thác trong những khu vực bảo vệ của di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh phải được phép của Bộ trưởng Bộ Văn hoá.
Điều 16
Những đối tượng có dấu hiệu như quy định ở Điều 1 của Pháp lệnh này đang trong thời gian nghiên cứu để công nhận đều được bảo vệ theo Pháp lệnh này.
Điều 17
Các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân, khi lập đề án xây dựng, cải tạo các công trình kinh tế, văn hoá, quốc phòng, hoặc các công trình khác có liên quan đến di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh phải được sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ văn hoá. Trong trường hợp không được sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, chủ công trình xây dựng có quyền kiến nghị lên Hội đồng bộ trưởng.
Điều 18
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương quyết định quy hoặc tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh do mình quản lý.
Đề án tu bổ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh do Bộ trưởng Bộ Văn hoá duyệt.
Hội đồng bộ trưởng quyết định quy hoạch và đề án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh đặc biệt quan trọng.
Việc tu bổ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh phải bảo đảm nguyên trạng và tăng cường sự bền vững của di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh.
Nhà nước khuyến khích việc đóng góp tự nguyện của nhân dân vào việc bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh.
Điều 19
Việc thăm dò và khai quật khảo cổ học chỉ được tiến hành sau khi có giấy phép. Việc cấp giấy phép do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Điều 20
Việc giao các di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh thuộc sở hữu Nhà nước cho các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân để sử dụng vào các mục đích quy định ở Điều 5 của Pháp lệnh này, do Hội đồng bộ trưởng hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương quyết định theo quy định của pháp luật.
Những di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh thuộc sở hữu Nhà nước không được sử dụng đúng quy định của pháp luật thì có thể bị thu hồi.
Điều 21
Việc sử dụng di tích lịch sử, văn hoá thuộc sở hữu tập thể hoặc cá nhân phải bảo đảm quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu và bảo đảm lợi ích của Nhà nước và xã hội.
Khi cần thiết vì lợi ích chung, Nhà nước có thể trưng dụng trong một thời gian nhất định di tích lịch sử, văn hoá thuộc sở hữu tập thể hoặc sở hữu cá nhân, theo quy định của pháp luật.
Tập thể, cá nhân không bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá thuộc quyền sở hữu của mình theo quy định của pháp luật thì những di tích lịch sử, văn hoá đó có thể bị trưng mua theo quy định của pháp luật.
Điều 22
Người sưu tập di tích lịch sử, văn hoá phải có giấy phép của Bộ trưởng Bộ Văn hoá.
Điều 23
Cấm mang di tích lịch sử, văn hoá ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp đặc biệt do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Điều 24
Những di tích lịch sử, văn hoá là tài liệu lưu trữ quốc gia thì được bảo vệ và quản lý theo Pháp lệnh bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia.

Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2011

Cúng Tiên sư mồng 9 tháng giêng


Vào ngày mồng 9 tháng giêng ở quê tôi mọi người tùy theo nghề nghiệp của mình tiến hành làm lễ cúng các vị tổ của các nghề gọi là "lễ cúng Tiên Sư" .
Tiên sư còn gọi là Thánh sư, Nghệ sư là thầy dạy nghề các đời trước, là ông tổ một nghề nào đó hoặc là người đã khai phá ra nghề và truyền lại cho các thế hệ sau được thờ cúng tại xưởng hoặc tại gia. Họ chỉ là con người bình thường nhưng được nhân dân tôn thờ vì đã có công tạo ra nghề và truyền dạy cho dân chúng. Trước đây những người cùng một nghề hay cùng buôn bán một thứ hợp nhau lại thành một phường hội, lập miếu thờ Thánh Sư.
Đức Khổng Tử - ông tổ nghề dạy học. Ảnh: Internet
Đức Khổng Tử - ông tổ nghề dạy học. Ảnh: Internet
Lễ vật cúng Tiên sư tại nhà thường là hương, hoa, trà, rượu và một con gà. Trước đây sau khi cúng Tiên sư xong thì làm lễ khai bút đối với những ngành nghề liên quan đến con chữ hoặc làm mở hàng công việc của mình đối những nghề thủ công. Ngày nay, tục khai bút không còn phổ biến, nhưng những người thợ vẫn duy trì lễ ra mắt Tiên sư.
Gia đình nhà tôi hầu hết ai cũng làm nghề giáo, bởi vậy năm nào cũng vậy sáng mồng 9 tháng giêng mẹ tôi dạy thật sớm để làm mâm cúng lễ Tiên sư. Theo như quan niệm của nghề dạy học thì  tiên sư của nghề là đức Khổng Tử. Ông cũng là vị thầy cao cả nhất trong xã hội Á Đông. Người đi dạy cũng như người đi học từ xưa luôn luôn xem ông là bậc "vạn thế sư biểu" tức là ông thầy tiêu biểu của muôn đời. Là một nhà giáo dục chân chính, một bậc thầy vĩ đại không phải chỉ riêng của Trung Hoa mà còn của cả thế giới loài người. Nhờ Khổng Tử địa vị của ông thầy được người đời xưa nâng cao, hơn cả địa vị của ông cha, chỉ đứng sau địa vị của ông vua. Đến khoảng 6h sáng là nhà tôi hoàn tất việc cúng kính, cả gia đình cùng nhau quay quần bên bữa cơm cúng buổi sáng để nhắc nhở bảo ban công việc phải làm như thế nào cho giữ được phẩm chất của ngành nghề.
Cúng tiên sư ngành nghề là thể hiện tinh thần "uống nước nhớ nguồn" và "tôn sư trọng đạo" để nhớ ơn các bậc tiền nhân có công truyền dạy nghề và đây cũng là dịp để khuyến khích, hỗ trợ nhau trong công việc làm ăn. Chính vì vậy mà ngày cúng Tiên sư là một nét văn hóa truyền thống cần được giữ gìn và phát huy trong cuộc sống hiện đại với biết bao bộn bề công việc.
Hoàng Anh

Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2011

Tết Thanh Minh


Là tiết thứ năm trong "nhị thập tứ khí" và đã được người phương Ðông coi là một lễ tiết hàng năm. Tiết Thanh Minh đến sau ngày Lập Xuân 45 ngày. Theo nghĩa đen, thanh là khí trong, còn minh là sáng sủa. Khi tiết Xuân Phân qua, những cơn mưa bụi của trời xuân đã hết, bầu trời trở nên quang đãng, sáng sủa là sang tiết Thanh Minh (thường bắt đầu trong tháng ba hoặc muộn lắm là đầu tháng tư âm lịch tuỳ từng năm).
* Tết Thanh Minh
Nhân ngày Thanh Minh, cũng như nhiều dân tộc Á Đông khác. Dân ta có tục đi viếng mộ gia tiên và làm lễ cúng gia tiên sau cuộc tảo mộ.

Lễ tảo mộ:
 Tảo mộ chính là sửa sang ngôi mộ cho được sạch sẽ. Nhân ngày lễ Thanh Minh người ta mang theo cuốc xẻng để đắp lại nấm mồ cho to, rẫy hết cỏ dại và những cây hoang mọc trèo lên mộ có thể phạm tới hài cốt của người thân đã khuất. Sau đó cắm mấy nén hương, đốt vàng mã hoặc đặt thêm bó hoa dâng cho vong hồn người quá vãng. Bên cạnh những ngôi mộ được trông nom, săn sóc, còn có những ngôi mộ vô chủ, không người thăm viếng. Những người có lòng nhân đức không khỏi mủi lòng thường cắm một nén hương, đốt nắm vàng mã cho những ngôi mộ này. Tại các nơi tha ma mộ địa còn có lập một cái am để thờ chung những mồ mả vô chủ gọi là Am chúng sinh và mỗi cửa am có một bà đồng sớm tối đèn hương thờ phụng.Trong ngày tảo mộ, bãi tha ma vốn vắng lặng bỗng trở nên sầm uất. Mọi người đi tảo mộ đều vui vẻ và ăn vận rất chỉnh tề. Các ông già bà cả thì lo khấn vái nơi phần mộ. Thanh niên nam nữ cũng nhân dịp này mà phô sắc phô tài. Cả trẻ em cũng theo cha mẹ đi tảo mộ, trước là để biết dần những ngôi mộ của gia tiên, sau là bố mẹ muốn tập cho chúng sự kính trọng tổ tiên qua tục viếng mộ. Những người quanh năm đi làm ăn xa cũng thường trở về vào dịp này để tảo mộ gia tiên và xum họp với đại gia đình. Thường người ta đi tảo mộ từ sáng sớm cho đến gần trưa. 

Tục lệ tảo mộ: Thường người ta đi tảo mộ vào tiết Thanh Minh trời quang mây tĩnh, và sau đó kính mời hương hồn tổ tiên về hưởng cỗ con cháu cúng trong dịp này. Nhưng cũng có nhiều nơi người ta tảo mộ vào dịp trước và sau ngày TếtNhiều làng thuộc tỉnh Hà Ðông ở vào vùng đất thấp, tới vụ nước, ruộng nương và cả bãi tha ma đều ngập nước, thì người ta đi tảo mộ vào đầu tháng chín, sau khi nước đã rút. Dù đi tảo mộ vào ngày nào thì việc thăm nom mồ mả tổ tiên cũng là việc hay. Nghĩ đến gia tiên tức là nghĩ đến gốc, tưởng đến nguồn.


Cúng lễ trong ngày Tết Thanh Minh: Tết Thanh Minh cũng là dịp để con cháu sửa lễ cúng gia tiên sau khi viếng mộ về. Cũng có nhà sửa lễ mang ra mộ cúng, nhưng đó chỉ là cúng riêng một ngôi mộ. Còn sau đó người ta vẫn cúng ở bàn thờ tổ tiên và khấn tất cả gia tiên nội ngoại về phối hưởng. Người ta thường cúng mặn trong ngày Thanh Minh, nghĩa là có làm cỗ, hoặc không làm cỗ thì cũng có đĩa xôi, con gà cùng với hương hoa, trà rượu, vàng mã. Và đồng thời với việc cúng tổ tiên cũng có cúng Thổ Công như trong mọi dịp.
 
Theo phong tục cổ truyền, ngày mồng 3 tháng 3 tức Tết Hàn Thực, ta làm bánh chay. Tết này có xuất xứ từ bên Trung Quốc, làm giỗ ông Giới Tử Thôi (một hiền sĩ thời Xuân Thu có công phò Tần Văn Công), bị chết cháy ở núi Ðiền Sơn. Cũng như ngày mùng năm tháng năm tết Ðoan Dương cũng xuất xứ bên Trung Quốc là giỗ ông Khuất Nguyên (đời Xuân Thu, thờ vua Sở Hoài Vuơng) gieo mình chết trôi ở sông Mịch La. Ðành rằng dân ta theo tục đó nhưng khi cúng chỉ cúng gia tiên nhà mình.
Ở nước ta, tết Đoan Ngọ được coi trọng và xếp vào hàng thứ hai sau Tết Nguyên Ðán. Vì vậy các cụ thường nói "Mồng 5 ngày Tết". Học trò tết thầy, con rể tết bố mẹ vợ... quanh năm cũng chỉ tập vào hai lễ Tết đó.

Tết Ðoan Dương còn nhiều tục truyền đến nay; Sáng sớm cho trẻ ăn hoa quả, rượu nếp, trứng luộc, bôi hồng hoàng vào thóp đầu, vào ngực, vào rốn để giết sâu bọ. Người lớn thì giết sâu bọ bằng uống rượu hoặc ăn rượu nếp. Trẻ em giết sâu bọ xong khi còn ngồi trên giường, rồi rửa mặt mũi, chân tay xong bắt đầu nhuộm móng tay, móng chân, đeo chỉ ngũ sắc. Em gái đến độ tuổi xâu lỗ tai cũng chọn ngày này mà xâu. Vì là đoan ngọ nên cúng gia tiên phải cúng vào giờ ngọ. Tục hái thuốc mùng năm cũng bắt đầu vào giờ ngọ, đó là giờ có dương khí tốt nhất trong cả năm, lá cây có thu hái được trong giờ đó có tác dụng chữa bệnh tốt, nhất là các chứng ngoại cảm, các chứng âm hư. Người ta hái bất kỳ loại lá gì có sẵn trong vườn, trong vùng, miễn sao đủ trăm loại, nhưng các loại có độc chẳng hạn lá ngón, cà độc dược, lá sắn... chẳng dám hái.

Tết Hàn Thực

Tết Hàn thực là ngày Tết được tổ chức vào ngày mồng 3 tháng 3 âm lịch. "Hàn thực" nghĩa là "đồ ăn lạnh". Ngày Tết này diễn ra ở hầu hết các vùng lãnh thổ Việt Nam.

Điển tích Tết Hàn thực
Ở Việt Nam, hàng năm vào ngày này, nhiều gia đình cho xay bột, đồ đỗ xanh, làm bánh trôi, bánh chay, nấu xôi chè lễ Phật và cúng gia tiên. Có lẽ đó cũng là một cách tưởng niệm người thân trong những ngày tháng cuối Xuân, chứ ít người biết đến hai chữ "Hàn thực" gắn với một điển tích ở Trung Quốc.

Ảnh:muivi.com
Thời Xuân Thu ở Trung Quốc, công tử Trùng Nhĩ (về sau là vua Tấn Văn Công) khi gặp cảnh hoạn nạn, đói quá, được Giới Tử Thôi cắt thịt đùi mình nấu dâng cho ăn. Sau mười chín năm phiêu bạt, Trùng Nhĩ lại được trở về nắm giữ Vương quyền nước Tần. Vua ban thưởng cho tất cả những người đã cùng nếm mật nằm gai, nhưng lại quên mất Tử Thôi. Tử Thôi cũng không oán giận gì (vì nghĩ việc giúp đỡ Trùng Nhĩ là một nghĩa vụ của kẻ bề tôi) và đưa mẹ vào sống ở núi Điền. Lúc vua nhớ ra, cho người tới mời mà không được, liền sai đốt rừng để Tử Thôi phải ra. Nhưng Tử Thôi không chịu và hai mẹ con cùng chết cháy. Hôm ấy đúng ngày mồng năm tháng Ba. Đau xót, vua sai lập miếu thờ trên núi và đổi tên núi đó là Giới Sơn. Người quanh vùng thương Tử Thôi nên hằng năm, từ ngày mồn 3 đến ngày mồng 5 tháng Ba (ba ngày) thì kiêng đốt lửa mà chỉ ăn đồ nguội đã nấu sẵn. Ở Việt Nam cũng theo tục ấy và ăn Tết Hàn thực ngày mồng 3 tháng 3.
Từ thời Lý (1010 đến 1225) nhân dân Việt Nam đã tiếp nhận Tết này nhưng chỉ tổ chức vào một ngày mồng 3 tháng Ba (âm lịch), không kiêng đốt lửa và thường làm bánh trôi, bánh chay thay cho đồ nguội. Mục đích chủ yếu là để cúng gia tiên chứ ít ai rõ chuyện Giới Tử Thôi. Hiện nay, Tết này vẫn thường đậm nét ở miền Bắc - nhất là các tỉnh quanh Hà Nội.

Ảnh:cookingand.blogspot.com
Tết Hàn thực có nguồn gốc từ Trung Hoa nhưng đã được Việt hóa từ lâu đời. Đối với người Hoa, họ thường làm bánh trôi, bánh chay để hôm sau ăn tránh việc nổi lửa để tưởng nhớ một vị trung thần này. Vào ngày này, trên ban thờ gia tiên, trên mâm cỗ tại điện thờ hay một số chùa chiền, nguời ta thường dâng cúng bánh trôi, bánh chay. Người Việt tượng trưng Tết Hàn thực bằng những thức ăn nguội bánh trôi – bánh chay. Vì vậy người Việt còn gọi Tết Hàn thực bằng một tên gọi khác là Tết bánh trôi – bánh chay.  Mâm lễ Tết Hàn thực thường có: hương, hoa, trầu cau, ba hoặc năm bát bánh trôi, bánh chay dâng lên bàn thờ. Đối với người Việt Nam, Tết Hàn thực vừa để tưởng nhớ người xưa vừa là dịp để mọi người viếng thăm và tảo mộ người thân và cúng gia tiên mong một mùa hạnh phúc, ấm no.
Bánh trôi – bánh chay ngày Tết Hàn thực

Ảnh:blogtamtay.vn
Gạo làm bánh trôi, bánh chay phải chọn được nếp cái hoa vàng, thứ gạo tròn hạt, đều tay, như các cụ thường nói "nếp đếm trăm được". Cứ chín phần nếp, cho một phần tẻ hoặc cùng lắm là cho đến non hai phần tẻ. Bởi nếu ít tẻ thì bánh dính và chảy, không thành hình tròn đẹp, mà nhiều quá thì lại bị cứng bánh, ăn dai mất ngon. Gạo nếp lẫn gạo tẻ vo sạch, ngâm mềm, vo sơ lại cho sạch rồi đem xay nhuyễn trong cối xay có cho nước vào từ từ, trút bột nước vào túi vải treo lên cho ráo nước, nhào lại bột cho thật dẻo, mịn.

Ảnh:hopham.vn
Đỗ để làm nhân bánh cũng phải là loại giống đỗ tiêu, hạt nhỏ, thơm, đem hấp chín tơi, giã mịn, trộn với đường kính trắng làm nhân bánh chay. Đậu xanh ngâm mềm, đãi sạch vỏ, hấp hoặc đồ chín, xúc ra đem giã nhuyễn, chừa lại một ít chưa giã để trang trí. Xào phần đậu xanh đã giã với đường, vê lại bằng cỡ nhỏ hơn viên bánh trôi một chút. Quấy bột sắn dây hoặc bột đao với nước pha đường, kèm một chút nước gừng, đun nhỏ lửa, đảo đều tay cho bột hơi sánh lại và không bị cháy khét ở đáy nồi.
Đường làm nhân bánh trôi ngon nhất là loại đường phên Dương Liễu, Cát Quế, chặt thành những viên nhỏ như hạt lựu, làm nhân bánh trôi.

Ảnh:cookingand.blogspot.com
Khi vê bánh tròn, đặt bánh lên một tấm vải khô sạch để hút nước để tránh cho bánh bị méo khi thả vào nước luộc. Nồi nước luộc nên để nhiều nước, đun nhỏ lửa. Nên có một nồi nước đun sôi để nguội bên cạnh, khi bánh chín nhúng vào nước nguội để vớt ra đĩa (đối với bánh trôi), ra bát (đối với bánh chay), bánh không bị dính vào nhau.

Ảnh:kokotaru.com
Tùy theo sở thích của mỗi người, bạn có thể rắc thêm vài sợi dừa nạo nhỏ, hoặc dăm hạt đỗ xanh thổi chín còn nguyên hình hoa cau. Bát bánh sẽ trông như một đóa hoa cánh trắng, nhụy vàng, phủ dưới làn nước trong và thơm ngát.

Tết Nguyên Đán



Tết Nguyên Đán là ngày hội cổ truyền lớn nhất, lâu đời nhất, có phạm vi phổ biến rộng nhất từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau và là ngày lễ tưng bừng, nhộn nhịp của cả dân tộc.Từ những thế kỷ trước, từ đời Lý - Trần – Lê, ông cha ta đã cử hành lễ Tết hàng năm một cách trang trọng.
 Ý NGHĨA NGÀY TẾT NGUYÊN ĐÁN
Tết Nguyên Đán là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống lễ hội Việt Nam, nó mang đậm nét văn hóa dân tộc sâu sắc và độc đáo, phản ánh tinh thần hòa điệu giữa con người và thiên nhiên theo chu kỳ vận hành của vũ trụ.
Chữ Nguyên có nghĩa là bắt đầu, chữ đán có nghĩa là buổi ban mai, là khởi điểm của năm mới. Đồng thời, tết cũng là dịp để gia đình, họ hàng, làng xóm, người thân xa gần sum họp, đoàn tụ thăm hỏi, cầu chúc nhau và tưởng nhớ, tri ân ông bà tổ tiên.
Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, Tết là do xuất xứ từ “tiết” (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, điều đó có ý nghĩa rất đặc biệt đối với một nước thuần nông như nước ta.
Theo tín ngưỡng dân gian, bắt đầu từ quan niệm “Ơn trời mưa nắng phải thì” người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ các vị thần linh có liên quan đến nông nghiệp như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước… Người nông dân cũng không quên ơn các loài vật đã cùng họ sớm hôm vất vả như trâu, bò, gia súc, gia cầm và các loại cây lương thực, thực phẩm đã nuôi sống họ.
Về ý nghĩa nhân sinh của Tết Nguyên Đán, đó là Tết của gia đình, Tết của mọi nhà. Người Việt Nam có phong tục hằng năm, mỗi khi năm hết, Tết đến dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu, kể cả người xa xứ cách hàng ngàn ki-lô-mét vẫn mong được về sum họp dưới mái ấm gia đình trong ba ngày Tết, được khấn vái dưới bàn thờ tổ tiên, nhìn lại ngôi nhà, ngôi mộ, nhìn lại nơi mà một thời bàn chân bé dại đã tung tăng và mong được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương nơi chúng ta cất tiếng khóc chào đời.
Mấy tiếng “Về quê ăn Tết” không chỉ là khái niệm đi về, mà đằng sau nó là cả một quá trình hành hương về với cội nguồn, về nơi chôn nhau cắt rốn. Không thế thì làm sao Huỳnh Văn Nghệ có cảm hứng để lưu truyền cho hậu thế hai câu thơ bất hủ “Từ thuở mang gươm đi mở cõi, ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”.
Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam, ngày Tết xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho xã hội; tình thầy trò, bè bạn cố tri, ông mai bà mối đã tác thành cho đôi lứa.. Tết cũng là dịp đúc kết mọi hoạt động liên quan đến một năm qua, chào đón một năm mới với hy vọng tốt lành cho cá nhân và cho cả cộng đồng.
Tết Nguyên Đán là lễ hội truyền thống mang tính toàn dân. Vì vậy vào những ngày cuối năm, mọi hoạt động đều hướng vào Tết, chuẩn bị cho Tết. Các ngành, các cấp đều có kế hoạch cho ngày hội đặc biệt này. Từ thương nghiệp đến giao thông vận tải, văn hóa đến an ninh công cộng, nhất là các ngành dịch vụ thì cứ là “bận như Tết”. Các công sở, xí nghiệp, trường học cũng đều có kế hoạch tham gia Tết, đồng thời giải quyết những nhu cầu đặt ra trong nội bộ đơn vị.
Rõ nét nhất là không khí chuẩn bị nhộn nhịp khẩn trương, từ việc mua sắm, may mặc đến việc trang trí nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, cỗ bàn, đón tiếp người thân ở xa về…
Theo tập tục, đến ngày 23 tháng Chạp là ngày đưa tiễn ông Táo về Trời tâu việc trần gian thì không khí Tết bắt đầu rõ nét. Ngày xưa, dưới thời phong kiến, từ triều đình đến quan chức hàng tỉnh, hàng huyện đều nghỉ lễ từ ngày 23 tháng Chạp đến ngày khai hạ (từ 7 tháng Giêng).
Ngày nay, trong thời kỳ hiện địa, việc tổ chức nghỉ Tết, vui Tết được quy định hợp lý, khoa học hơn – Vừa văn minh, lịch sự, không lãng phí thời gian, phù hợp nếp sống công nghiệp vừa bảo lưu được bản sắc văn hóa dân tộc và ý nghĩa nhân sinh của ngày Tết thì không có gì thay đổi. Đó cũng là nét đẹp truyền thống văn hóa dân gian cần được giữ gìn và phát huy.
BPT.St.

ThờThổ Địa

Thổ Địa là vị thần thủ hộ về đất đai nhà ở. Danh xưng chính thức của Ngài là “Phước Đức Chính Thần” . Trong dân gian còn xưng là “Hậu Thổ”, “Xã Thần”, “Xã Công”, “Bá Công”, “Thổ Địa” hoặc “Phúc Thần” . Ở các nơi thờ phụng ngoài trời hay Miếu Vũ thì tôn xưng là “Phước Đức Chính Thần”.
 Phước Đức Chính Thần  (Thổ Địa Công )
*Đất nước chúng ta (TQ) từ xưa lấy nông nghiệp làm gốc, cho nên trăm họ đều coi trọng đất đai, vì có đất mới có thể sản xuất ra ngũ cốc để ăn mà sống. Vì thế, đối với đất đai có sự biết ơn rất lớn, từ đó, sinh ra tâm lý sùng bái và sáng tạo ra một vị thần đất để thờ phụng. Thổ Địa Công hiện hữu là như vậy.
*Đời nhà Châu, cứ 25 nhà thì gọi là một xã. Mà đã lập ra xã, thì hàm nghĩa là đã có “đất”. Thế nên sau khi lập thành xã, thờ vị thần đất gọi là “Thổ Địa Công”. Mỗi xã lập ra một cái “đàn” để cúng Thổ Địa, cầu cho trúng mùa no ấm.
*Theo truyền thuyết thì Thần Hậu Thổ là vị chưởng quản hết tất cả đất đai chung cả nước, vậy Thổ Địa Công là vị coi sóc vùng đất nhỏ của địa phương nào đó. Phàm người lúc sống mà có công đức với vùng đất nào đó, thì khi chết được phong làm Thần Thổ Địa. Sở dĩ Thổ Địa được tôn xưng là “Phước Đức Chính Thần” là vì lúc xưa, các tụ lạc gọi là “Xã” và gọi thần Thổ Địa là “Xã Công”.
Lúc mới bắt đầu thờ thì còn rất là trừu tượng, về sau mới nhân cách hóa bằng hình ảnh hai vợ chồng, gọi là Xã Công và Xã Mẫu, cũng gọi là “Thổ Địa Công” và “Thổ Địa Bà”. Đó là vị thần tượng trưng cho đạo nghĩa của đất nước. Vì thế, Thổ Địa là vị thần đứng đầu trong hàng các thần được thờ cúng.
*Ngày xưa, việc cúng tế trời đất chỉ dành riêng cho vua chúa mới được cúng , gọi là “Xuân Thu nhị tế” (cúng vào hai mùa Xuân Thu). Do đó, dân gian mới tạo ra hình tượng Thổ Địa Công để nói lên sự biết ơn đối với đất đai trồng trọt mà khỏi phạm vào luật cấm của vua quan.
Đất nước ta (TQ) theo nông nghiệp là chính, nên trước khi vào vụ trồng cấy, cúng vái Thổ Địa phù hộ cho trúng mùa, đến lúc thu hoạch thì cúng Thổ Địa để tạ ơn được mùa. Lần đầu cúng gọi là “Xuân kỳ”, lần sau cúng gọi là “Thu báo”.
-Ngày xưa, lễ “Thu báo” thường là vào ngày rằm tháng tám, tức là lúc đã thu hoạch xong mùa vụ, vừa cúng tạ ơn trúng mùa, vừa cầu xin phước lộc với Ngài “Thổ Địa Công”. Có lẽ đây là nguồn gốc của Tết Trung Thu ngày nay vậy.
*Việc sùng bái Thổ Địa phát triển mạnh vào thời Minh Thái Tổ. Theo “Lang Nha Mạn Sao” nói rằng, Minh Thái Tổ sinh ra đời trong một cái Miếu Thổ Địa, cho nên thời nhà Minh, số lượng Miếu Thổ Địa tăng rất nhiều, không nơi nào là chẳng có.
*Việc tạo ra hình tượng Thổ Địa Công cũng nói lên được những nét đặc thù về chức trách của Ngài. Đó là một ông già râu tóc bạc trắng, tay cầm gậy tượng trưng cho sự gìn giữ đất, một tay cầm khối vàng hoặc ngọc như ý, là nói đây là Thần Tài của vùng đất. Nếu nơi nào có được những người đỗ đạt trạng nguyên, tiến sĩ (ngày nay là hương trưởng, huyện trưởng) thì Thổ Địa nơi đây có thêm chiếc “mão quan”.
*Trong dân gian, ngoài việc thờ Thổ Địa Công làm thần đất, còn thờ thêm Tài Thần và Phúc Thần, vì dân gian tin rằng, hễ “có đất là có tiền”, do đó, Thổ Địa Công được các thương gia tôn làm “thần thủ hộ”.
Truyền thuyết nói rằng,Ngài ngoài chức trách giúp cho nông dân trúng mùa, còn thêm chức năng trấn yểm quỉ thần, giải trừ xua đuổi ác ma. Vì thế, dân gian hay đến miếu để thỉnh Ngài về nhà trừ tà ma yêu quái. Về sau mới phát triển dần đến việc mỗi nhà đều có thờ “Ngũ Thần” trong đó có Thổ Địa Công.
Còn nhà nào không thờ Thổ Địa thì mỗi tháng vào ngày mùng hai và mười sáu. Bày hương án ra trước cửa cúng vái Thổ Địa Công, từ đó hình thành tập quán cúng Thổ Địa vào hai ngày sau ngày sóc (mùng 1) và ngày vọng (ngày rằm) (tức là ngày mùng 2 và ngày 16) (*Ngày nay trở thành cúng cô hồn chiến sĩ-ND)
*Hình tượng thờ Thổ Địa thường là một vị đầu đội mão, hai bên mão có hai tua phủ xuống đến vai. Mặt vuông mà đầy đặn, hai mắt hơi híp, tóc bạc râu dài bạc, dáng dấp hiền hòa dễ thương. Mình ngồi ghế “thái sư”, tay phải cầm ngọc như ý hoặc cầm trượng, tay trái nắm “khối vàng”, hai vai là đầu và đuôi rồng thêu trên áo lộ ra, bụng to nổi lên rất đẹp, hai chân buông xuống theo thế tự nhiên. Trong ý tưởng của dân gian hai âm “phúc” (bụng) và “phúc” (trong phúc đức) là giống nhau, cho nên người ta dùng hình tượng “bụng to” để nói lên sự “được phúc lớn”.
*Truyền thuyết về Thổ Địa Công rất nhiều :
* Phước Đức Chính Thần họ Trương tên Phước Đức, sanh vào ngày mùng hai tháng hai đời Chu Vũ Vương năm thứ hai. Từ nhỏ, tỏ ra thông minh và rất hiếu thảo. Đến năm 36 tuổi, làm quan thâu thuế của triều đình. Ông rất liêm chính, thương xót bá tánh khổ sở, nên đã tâu xin giảm nhiều hạng mục thuế vụ, dân chúng rất sùng kính.
Đến năm thứ ba đời Chu Mục Vương thì từ trần, thọ một trăm lẻ hai tuổi. Chết đã ba ngày mà mặt không đổi sắc, có một nhà nghèo kia đem bốn tảng đá lớn xây thành ngôi nhà bằng đá để thờ phụng ông. Chẳng bao lâu sau, nhà nghèo kia trở nên giàu có, mọi người đều tin là do thần ân hộ trì, nên chung lại mà xây thành Miếu Thờ , lễ lạy kim thân Ngài.
Những người buôn bán thường đến cúng bái, được Ngài gia hộ nhiều may mắn. Vị quan thâu thuế thay Ngài rất tham lam, bóc lột nhân dân thậm tệ, ai nấy rất oán giận. Do đó, người ta tưởng nhớ đến lòng tốt của Trương Phước Đức thêm nhiều, và miếu thờ của Ngài trở thành Miếu Thờ “Phước Đức Chính Thần”.
*Lại có một truyền thuyết khác, vào đời Thương ,Chu, vị quan thượng đại phu ở triều đình, trong nhà có một tên đày tớ họ Trương tên Minh Đức. Người con gái nhỏ của quan đại phụ nhớ cha, nhờ người đày tớ họ Trương nầy ẳm đi thăm cha. Nhưng trên đường xa, ngày nọ bổng trời đổ tuyết xuống rất nhiều, đứa con gái nhỏ sắp chết cóng, nhưng nhờ họ Trương xả thân lấy hết quần áo ủ ấm cho bé gái thoát chết, còn bản thân anh ta thì bị chết vì lạnh lúc quay trở về nhà.
Khi người nghĩa bộc vừa chết, trên không trung bổng hiện ra tám chữ “Nam Thiên Môn Đại Tiên Phước Đức Thần”. Mọi người lấy làm kinh dị, cho rằng thiên đình đã phong chức cho người nghĩa bộc họ Trương . Còn vị quan đại phu cảm niệm ơn đức cứu mạng con mình, dã cho xây Miếu Thờ. Đến đời Chu Vũ Vương được người đời tặng là “Hậu Thổ”, cho nên Thổ Địa Công mới có danh hiệu “Phước Đức Chính Thần”.
*Cũng có truyền thuyết nữa là, vua Tần Thủy Hoàng bạo ngược, bắt dân xây dựng Vạn Lý Trường Thành, người chồng của nàng Mạnh Khương tên Hàn Kỷ Lang cũng bị bắt đi làm xâu (sưu), chẳng may bị chết dưới thành. Nàng Mạnh Khương đi tìm xác chồng nhưng không gặp, liền khóc đến nổi lật cả tường thành lên, hiện ra vô số bộ xương người, không có cách nào biết được xương của ai.
Có một lão ông xuất hiện bảo:-“Trích máu của người vợ nhỏ vào xương, nếu xương nào hút máu cực nhanh, thì đó là xương của chồng. Nếu tìm được xương của chồng cô rồi, tôi nguyện làm người giữ mộ”. Nàng Mạnh Khương nghe theo, quả nhiên nhận ra hài cốt của chồng, cùng ông lão đem chôn cất. ông giữ lời hứa, ở mãi nơi đó giữ mộ đến cuối đời. Từ đó có truyền thuyết về “hậu thổ” là vì thế.
*Trong sách “Lễ Ký—Giao Đặc Tính” có ghi:- “Người gia chủ là “trung lựu” , tức là người đứng đầu của “xã” (làng)” (Thần Trung Lựu tức là Thổ Thần).
*Sách “Lã Thị Xuân Thu—Mạnh Đông Ký” chép:- “Nầy là tháng tốt, từ công xã đến xóm ấp, hưởng “ngũ kỷ” của tổ tiên” (Ngũ kỷ gồm:- Mộc là thần Câu Mang, cúng để giữ nhà, Hỏa là thần Chúc Dung, cúng để giữ bếp, Thổ là Hậu Thổ, cúng thần Trung Lựu (hậu thổ tức là “xã”), Kim là thần Nhục Thu, cúng để giữ cửa, Thủy là thần Huyền Minh, cúng để giữ giếng).
*Sách “Bạch Hổ Đạo Nghĩa” nói rằng:- “Ngày xưa, từ thiên tử đến thứ dân, ai cũng được phong đất để lập ra “xã”, lấy phước của người ấy mà báo công. Người mà không đất thì không thể lập ra “xã”, không có ngũ cốc thì chẳng có cái để ăn, cho nên phong đất lập “xã” ắt phải có Thổ Địa vậy” Hoặc :-“Xã tức là Thần Thổ Địa vậy”, Hậu thổ của người gọi là “Xã Thần” hay “Thổ Thần”.
*Trong “Thần Dị Điển—Xã Tắc chi thần Tổng bộ luận” có nói:- “Bậc tiên nho cúng tế Thần Ngũ Thổ tại mỗi “xã”. Ngũ Thổ là:- một là rừng núi, hai là sông ngòi, ba là gò đống, bốn là sình lầy, năm là đồng bằng. Đời nhà Minh gọi “xã” tức bây giờ gọi Thổ Địa. Phàm ở chỗ có đất, người mới nương tựa được, nên phải cúng đất”.
Cho nên, bất cứ nơi nào cũng phải có “Xã Thần”, bởi vì dù lớn như một nước, nhỏ như một địa phương, nếu chẳng luận đến tôn ti trật tự thì không thể tồn tại được”. Lại nói thêm Phước Đức Chính Thần  (Thổ Địa Công ) “Đầu ruộng đuôi ruộng đều là của Thổ Địa Công” để thể hiện sự tôn kính đối với thần xã. Thưở ban sơ, vị nào đến một nơi hoang vu để khai phá, cũng hết sức vất vả khổ sở và chịu nhiều hiểm nguy mới biến thành đất bằng, tạo nên làng xã. Những vị nầy rất xứng đáng được người sau tôn thờ làm Thổ Địa Công lắm vậy !
*Sách Hiếu Kinh Vĩ nói:- “Thần xã tức là sao Khuê của đất đai. Đất đai ngày nay được rộng lớn chẳng thể không kính trọng người có công khai phá, vì thế phong Thổ Địa làm Thần Xã , là cách tưởng nhớ công ơn người trước vậy”.
*Sách “Xuân Thu Tả Truyện” viết:-“Thần Cộng Công có người con trai tên Câu Long, giúp Chuyên Húc an định chín vùng đất, nên thành ra Hậu Thổ, lại phong làm Thượng Công, khi cúng tế thì gọi là Thần Xã”.
*Sách “Lễ Ký—Vương Chế” có viết:- “Cúng tế cho “xã” của vua làm cỗ lớn, cúng tế “xã” của chư hầu làm cỗ nhỏ.” Lại nói:- “Vua hợp nhiều người lại làm “Xã”. Xã là Hậu Thổ, để cho dân thờ cúng”. Vậy nói Hậu Thổ tức là nói vị thần của “Xã” vậy.
*THỔ ĐIA CÔNG là thần thủ hộ của một địa phương làng xã, quản lý hết đất đai của mọi người mọi nhà. Nên tục ngữ nói “Trang đầu trang vĩ Thổ Địa Công” (đầu xóm cuối xóm cũng là đất của Thổ Địa). Vì thế, nơi nào cũng phải thờ kính, người người đều phải cúng. Từ người buôn bán đến nông dân…ai cũng hết sức thành tâm cúng tế Ngài.
Thổ Địa Công đã từ “thần đất” chuyển hóa thành “thần người”, biểu lộ tinh thần “Trời người hợp một” của người Trung Quốc, thành ra quan niệm có tính cách “đa thần”, dung hợp được chủ thể và khách thể một cách hài hòa.
Ngày nay, tuy xã hội đã có nhiều tiến bộ về khoa học, nhưng niềm tin về Thổ Địa Công vẫn không mất. Từ những nhà hàng lớn, hảng xưởng, công ty, tiệm quán đến từng nhà mọi người… đâu đâu cũng thấy có sự hiện diện của Thổ Địa Công. Bởi vì Ngài là Phước Thần, Tài Thần mang lại sự phồn vinh giàu có cho mọi người, niềm tin về Ngài có lẽ mãi mãi không bao giờ mất.
*Hàng năm vào ngày mùng hai tháng hai âm lịch (Xuân Kì) và ngày rằm tháng tám (Thu Kì) . chúng ta nên cúng tế Thổ Địa Công để cảm tạ ân đức của Ngài.
*Ngày vía chính thức của Phước Đức Chính Thần là ngày mùng hai tháng hai âm lịch.
Nguồn: Tổng Hợp